[BizSTORY] CEO Công ty Kim & Kim: Kinh doanh bằng sự chân tình, trách nhiệm và đam mê | BizLIFE


Trong chiến lược toàn cầu hóa ẩm thực Hàn Quốc, kim chi Ông Kim’s đã lọt vào mắt xanh của tập đoàn CJ Hàn Quốc, và thương vụ M&A này được đánh giá là rất thành công, với mức giá vài triệu USD sau 5 năm đàm phán.

“Gả bán đứa con gái đầu” thương hiệu Ông Kim’s cho “chàng rể môn đăng hộ đối” là CJ, chị Nguyễn Thị Kim Hạnh lại chinh phục một đỉnh dốc mới, khởi nghiệp lần thứ hai với thương hiệu cà phê “quý tộc” Yellow Chair Specialty Coffee, “đứa con thứ hai thông minh, sắc sảo, tương lai sáng lạn hơn” như lời chị tâm sự

Chị có thể kể một chút về tuổi thơ của mình ở Tây Nguyên? Giáo dục gia đình đã ảnh hưởng thế nào đến tính cách và quan niệm sống của riêng chị? 

Cha tôi là người Gò Công, lên Buôn Ma Thuột từ năm 1967 để lập nghiệp. Năm 1972 ông về Sài Gòn cưới mẹ tôi và dẫn lên Buôn Ma Thuột, 5 chị em tôi sinh ra ở thị xã Buôn Ma Thuột, vùng cà phê đất đỏ bazan bụi mù trời.

Cha tôi là dân kỹ thuật và kinh doanh, mẹ tôi học hết tú tài đôi tại Gia Long – Sài Gòn, đang làm việc cho trường cấp 1 thì theo chồng lên Xứ Thượng.

Như bao gia đình ở Buôn Ma Thuột thời ấy đều mê đắm đất đai trù phú và khai hoang đất đai trồng cà phê, tiêu… gia đình tôi đã yêu luôn cái rẫy, cái vườn, cái cây. Cha tôi phải lao động từ khi còn rất trẻ để học nghề trồng cà phê, học làm trang trại.

Làm đủ nghề để nuôi con nên cha tôi mơ và đầu tư về sự học cho con cái rất quyết liệt. Vốn dĩ là doanh nhân ngoài thương trường nên ông luôn tâm niệm sống phải đàng hoàng tử tế về đạo đức, lấy chữ tín làm đầu, lao động và siêng năng chăm chỉ là phương châm dạy con ở nhà, ở trường thì ủng hộ và đầu tư hết mình. Điều đó đã được nuôi cấy trong mỗi anh em chúng tôi, mà tôi đã và đang mang theo bằng một niềm tự hào đến tận bây giờ và mãi mãi. 

Ước mơ thủa thiếu thời của chị là gì? Lý do gì khiến chị rẽ sang con đường kinh doanh?

Thủa thiếu thời ước mơ của tôi là do cha mẹ vẽ ra, muốn con học hành để trở thành bác sĩ hay cô giáo, nhưng lớn lên thời thế đổi thay, tôi bắt đầu nghĩ đến kinh tế hoặc theo xu hướng thời thượng là “nhất Anh nhì Tin tam Kinh tứ Luật” nên chọn Kinh tế Ngoại Thương và Sư phạm Anh. Tôi mơ ước sẽ làm kinh tế lúc còn trẻ và nếu thất bại thì về làng làm cô giáo nghèo nhưng giàu tình thương và kiến thức. Còn vì sao bước sang con đường kinh doanh lại là do cái duyên trời định.  

Khởi nghiệp ban đầu, hai vợ chồng chị đã từng vấp phải những thất bại nào? Vốn liếng và kinh nghiệm nào đã khiến vợ chồng chị chọn sản phẩm kim chi? 

 Thất bại ban đầu khởi nghiệp của hai chúng tôi là dồn hết vốn và nguồn lực vào một chiến dịch chưa phù hợp ngay thời điểm “khởi sự” (dựa vào phân tích thị trường và hành vi đối tượng khách hàng chưa đầy đủ).

Kết quả trong 5 ngày đầu đem đổ bỏ hết 5 tấn kim chi và bắt đầu làm lại từ 50kg. Nhưng đó lại là “khởi sự” may mắn, chúng tôi tìm thấy cơ hội trong cái rủi ấy. 

Nguồn lực nào giúp chúng tôi chọn sản phẩm kim chi ư? Ông xã tôi là người Hàn Quốc, họ mang kim chi homemade đi theo họ bất cứ nơi đâu và dùng mỗi ngày cùng với nhân viên Việt Nam, chúng tôi “nghiện”, và rồi kim chi nhanh hết. Thế là ảnh phải tự làm kim chi, nhờ tôi đi chọn nguyên liệu.

“Lần đầu tiên anh làm chuyện ấy” (vì ở nhà mẹ làm mà) tại xứ người, anh phải tìm kiếm thông tin trên internet và nhớ lại những hình ảnh ngày xưa mà mẹ đã từng làm và thử. Bản thân tôi được dùng kim chi mỗi ngày, tham gia làm thử, mua chọn nguyên liệu, tôi nhận ra sự ngon và lành.

Quan sát nguyên liệu cũng như cách làm kim chi, tôi thấy đây là cả một nghệ thuật văn hóa ẩm thực cần được chia sẻ cho người Việt nam. Thế là kim chi Ông Kim’s ra đời. 

Kỷ niệm nào đáng nhớ nhất về những gian truân vất vả mà vợ chồng chị đã nếm trải, để tạo dựng nên thương hiệu kim chi Ông Kim’s?

Chúng tôi bắt đầu từ một phòng lab trên sân thượng ở Quận 3, nơi đặt văn phòng làm việc của ảnh và nhóm thương mại điện tử.

Trong suốt 3 – 4 tháng nghiên cứu, muối kim chi đến tận nửa khuya để tìm ra đâu là nguyên liệu ngon và kim chi ngon nhất.

Rồi đến những chuyến xe chở nhau đi đếm từng hộp kim chi vơi dần trên kệ, những cuộc gọi điện cho những cô sinh viên làm thêm để nghe phản hồi của khách từ những chiến dịch sampling đầu tiên ròng rã 3 tháng liên tục.

Tôi không bao giờ quên đóng góp của cả team cho những thời điểm nhọc nhằn ấy. 

Với một món ăn “quốc hồn quốc túy” của Hàn Quốc, làm thế nào để tăng hàm lượng chất xám và “nội địa hóa” ngay tại Việt Nam?

Kim chi có từ ngàn năm trước và người Hàn Quốc dùng đến tận bây giờ mà không thay đổi gì chỉ làm cho nó đậm nét văn hóa và tinh túy thêm lên. Bằng chứng là họ có cả một thành phố kim chi và Viện nghiên cứu kim chi thế giới, rất nhiều nước đến tham quan và nghiên cứu.

Chúng tôi may mắn trở thành đại diện marketing cho Viện tại Đông Nam Á và được hỗ trợ về kỹ thuật, nghiên cứu văn hóa vùng miền rất sâu đậm. Họ cũng nghiên cứu dưa muối, mắm cà, dưa cà của Việt Nam.

Một cách trùng hợp, ẩm thực Hàn Quốc và Việt Nam rất tương đồng, là một phụ nữ ham nấu nướng, tôi càng thấy rõ nhiều điều tốt, chưa tốt và trùng hợp ấy để kết hợp nguyên liệu vào kim chi bằng nguyên liệu và văn hóa bản địa.

Tôi biết rõ người Việt thích gì và hợp với món gì.

Chị đã rong ruổi khắp mọi miền đất của Đà Lạt để tìm nguồn nguyên liệu và nhà phân phối, để có được đầu vào chất lượng cho kim chi? Những vấn nạn nào từ canh tác, phân phối, vận chuyển mà chị từng vấp phải đã khiến cho giá thành của nông sản Việt Nam luôn cao hơn so với thế giới, mà chất lượng lại không đồng đều?

Tôi đã làm việc trực tiếp với nhiều hợp tác xã, hàng trăm hộ nông dân, hàng chục thương lái tại xứ sở rau Đà Lạt để tìm nguồn đầu vào chất lượng và ổn định cho kim chi. Nên tôi cũng được nông dân, thương lái chia sẻ nhiều khó khăn từ cây giống và vận chuyển… sao cho kịp thời và bảo quản an toàn.

Tất tần tật từ giá hạt giống, cây ươm tại Việt Nam căn bản đã cao hơn Hàn Quốc và các nước, đến cách canh tác thiếu vốn, thiếu khuyến nông dịch bệnh và phân bón nhập khẩu cũng làm cho chi phí canh tác tăng lên.

Cuối cùng là điều kiện giao thông, cơ giới hóa cho quá trình bảo quản sau thu hoạch vô cùng khó khăn do các hộ nông dân có đất đai canh tác không quy hoạch, manh mún, điều kiện giao thông và hạ tầng kém , phải dùng sức người nên chi phí đội lên cao hơn.

Rồi công đoạn vận chuyển về nhà máy từ nông trại gặp bao gian nan mãi lộ, đường xá làm cho giá thành nông sản Việt Nam cao hơn so với các nước cùng điều kiện. 

Theo chị, làm thế nào để Việt Nam giải bài toán giá thành cho rau quả, khoai tây, cà phê…?

Đây là bài toán lớn của cả hệ thống quản lý nhà nước và tư duy người dân, cần cơ quan đầu ngành và các doanh nghiệp tiên phong định hướng.

Hơn lúc nào hết chúng ta phải hợp tác với các hiệp hội quốc tế để phối hợp học hỏi sáng tạo, thay đổi nhanh để theo kịp những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong canh tác, đi kèm thực thi với tinh thần làm đúng, làm tích cực, dưới sự hỗ trợ hết mình, quyết liệt của nhà nước theo định hướng đầu tư phát triển nông nghiệp là mũi nhọn. 

Bao nhiêu năm gây dựng vất vả, vì sao chị quyết định bán thương hiệu cho CJ? Theo chị, những điểm nào cần lưu ý nhất để M&A đạt hiệu quả tối ưu?

Tôi quyết định vì tôi thấy “con tôi” lớn khôn, thương hiệu tôi lớn mạnh và cần những tập đoàn lớn có đủ điều kiện để làm nó lớn hơn.

Đồng thời tôi cũng muốn dành thời gian cho “đứa con đang thai nghén” hoàn hảo hơn và khó khăn hơn, với sứ mệnh lớn hơn.

M&A tối ưu là hiểu mình và hiểu họ nên cần một bên thứ 3 chuyên làm chuyện này, như vai trò trọng tài theo đạo đức, thông lệ quốc tế rõ ràng và nhân văn. 

Chị có lo ngại nhiều về sự lấn sân ồ ạt của các tập đoàn nước ngoài vào thị trường nông sản, thực phẩm, bán lẻ Việt Nam dẫn lối cho các mặt hàng ngoại tràn vào như cơn lũ? Nguy cơ này đặt ra những thách thức nào cho doanh nghiệp Việt Nam ngay trên sân nhà?

Nhiều nhà tài phiệt Thái Lan đã vào Việt Nam mua lại cái thương hiệu bán lẻ lớn như Metro, BigC, Nguyễn Kim, Sabeco… đó là điều tất yếu nếu chúng ta không vững.

Người Thái ở sát cạnh ta, có những nét tương đồng mà họ có thể hiểu ta và ta cũng dễ dàng chấp nhận họ, yêu họ. Ví dụ cụ thể như Hội chợ hàng Thái Lan diễn ra hàng năm tại Việt Nam qua rất nhiều năm vẫn tồn tại và thu hút nhiều khách tham gia mua sắm, trong khi nhiều hội chợ hàng Việt đang biến mất dần như Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao.

Chúng ta hãy xem lại cách chúng ta tạo lòng tin trong tim khách hàng – người tiêu dùng Việt Nam. 

Từ 2 năm nay, qua giới thiệu bạn bè, anh em quen biết, qua hiệp hội… tôi đã có duyên tiếp rất nhiều đoàn của Thái Lan qua Việt Nam thăm dò thị trường với sự hỗ trợ bài bản từ nhà nước, Trung tâm Xúc tiến thương mại của Thái.

Cách họ tiếp cận, phong thái, văn hóa ứng xử doanh nhân, ăn mặc cho đến cách tổ chức giới thiệu về sản phẩm hết sức bài bản. 

Chúng ta bị thua vì sản phẩm của mình nhưng do người khác sở hữu thì không sao, là lẽ tự nhiên. Nhưng chúng ta thua trên sân nhà với các sản phẩm nhập khẩu thì cần xem lại từ chiến lược kinh doanh đến bao bì, mẫu mã, dịch vụ và cách tiếp cận với chính người Việt. 

Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, doanh nghiệp trong nước khó trăm bề, từ hỗ trợ cơ chế nhà nước, thủ tục hành chính, thuế khóa… khiến chi phí đội lên cao, trong khi nước khác không có, nhiêu đó đủ làm cho ta lao đao.

Thêm vào các ký kết tự do thương mại, họ tự do vào với thuế xuất thấp và dễ dàng hơn ít chi phí hơn họ tội gì không vào? 

Dù gì chúng ta cũng không thể đổ lỗi cho ai mà chịu thua hay sợ sệt, mất nhiệt huyết.

Hãy nhìn ở khía cạnh khác, nghiên cứu các sản phẩm tốt hơn và bán ra nước ngoài như Thái, Campuchia, Lào, kể cả đặt nhà máy tại nước họ để cung cấp cho họ những nguyên liệu chế tác từ Việt Nam.

Bài toán nào cũng có lời giải, theo tôi nghĩ. 

Đến thời điểm này, vì sao chị quyết định khởi nghiệp lần thứ hai với cà phê cao cấp dành cho giới thượng lưu? 

Cà phê là cả một nền văn hóa ẩm thực phong phú và thú vị du nhập từ phương Tây vào Việt Nam và phát triển gần 2 thế kỷ (từ 1887).

Càng đi sâu vào cà phê tôi càng học được nhiều và nhận ra đó là một “sự khám phá trác tuyệt” mà giới thượng lưu, những người phải làm việc siêng năng, say mê cần đến, để thưởng cho mình, để hưởng thụ cuộc sống và có một nghệ thuật sống hết sức nhân văn từ ngàn xưa đến nay. 

Theo chị, xu hướng này sẽ phát triển thế nào trong thời gian tới? Nó đặt ra thách thức nào với người trồng, nhà phân phối, chế biến cà phê Việt Nam?

Theo dự đoán, cà phê specialty sẽ phát triển nhanh và tăng trưởng từ 10-20% người trồng và tiêu thụ cà phê trong thời gian rất nhanh.

Thách thức là chúng ta phải thay đổi tư duy và chuẩn bị cho việc từ xuất thô chất lượng chưa cao đến chế biến hạt xanh ra chất lượng rất cao, không những đạt chuẩn mà còn đạt điểm specialty.

Muốn vậy, người phân phối và chế biến cà phê dần dần phải học hỏi quốc tế các phương pháp chế biến mới, khoa học hơn, chất lượng hơn theo nguyên lý và kiến thức chính thống từ các Viện nghiên cứu trên thế giới, dần dần chuyên môn hóa về thuần giống, đơn giống, thành thật về nguồn gốc, bảo tồn các giống cổ, chất lượng chuẩn và thật.

Trình độ chuyên môn thử nếm hạt xanh và tay nghề rang cũng phải được nâng cao theo tiêu chuẩn quốc tế. 

Giành cuộc đời mình để khai thác tài nguyên bản địa, làm thế nào chị có thể kết hợp sức mạnh công nghệ với chất xám, để nâng tầm nông sản Việt?

Chúng tôi là thành viên của Hiệp hội Cà phê thế giới và Hiệp hội Specialty coffee thế giới, luôn học hỏi và rèn luyện thi cử nâng cao tay nghề theo các bằng cấp và khóa học chính thống và có chiều sâu trong sự tự nghiên cứu trong chế biến, rang xay và cả pha chế. 

Chị có nghĩ đây là hướng đi mạnh mẽ của Việt Nam trong tương lai? 

Việt Nam là nước xuất khẩu thứ 2 thế giới về sản lượng cà phê, nhưng chất lượng hạt chưa được xếp vào hàng tuyển chọn và tranh đấu với các hạt tại nhiều vùng nổi tiếng.

Thế giới đang dần dịch chuyển từ cà phê commerce sang cà phê specialty, để có được hạt cà phê chất lượng nhất và ly cà phê ngon lành, vậy Việt Nam có nằm ngoài xu hướng này hay cần nắm bắt cơ hội này để tiến lên ở tầm cao mới? 

Trong những vất vả, gian truân khởi nghiệp với nông nghiệp, có bao giờ chị nản lòng? Điều gì giúp chị vượt lên, để đi từ hết đỉnh dốc này tới đỉnh dốc khác?

Nản lòng không những có mà còn nhiều. Nhưng không hiểu sao khi gặp khó lại nảy ra cơ hội, nên lại tiếp tục và vui vẻ trên con đường mình đi bằng sự chân tình, trách nhiệm và đam mê.

Rồi chính khách hàng là nguồn động lực mạnh mẽ, những sản phẩm ngon lành được nghiên cứu ra liên tục là nguồn tiếp sức không ngừng nghỉ.

Chị có thể kể một chút về chồng mình, người đồng hành đã chia sẻ với chị mọi gian truân, và chắp cánh cho những ước mơ của riêng chị?

Anh ấy là người mà té rồi đứng dậy, rồi đối mặt và giải quyết với sứ mệnh rõ ràng và chân trời lạc quan.

Mọi khó khăn với anh ấy đều là cỏn con, thực thi còn lại là tôi chạy theo lo, để anh ấy đi đến chân trời đã định là sống chết ở tại đất Việt Nam – quê hương thứ 2.

Chúng tôi có khát vọng cùng nhau thực hiện, hơn 10 năm tôi giúp anh ấy mang chuông đi đánh xứ người, và đã có niềm tin yêu nhất định trong tim người tiêu dùng Việt Nam và người nước ngoài sống tại Việt Nam.

Giờ đây, cà phê là ngành mũi nhọn của Việt Nam, chúng tôi chọn con đường chuyển từ xuất thô sang xuất tinh, mang ra thế giới một góc nhìn mới “cà phê đặc sản” cao cấp đúng theo chuẩn quốc tế, với sự sáng tạo và nghiên cứu độc đáo.

Một cách làm, kinh doanh cà phê chính thống và có cơ sở để thế giới yêu cà phê tìm đến để khám phá. 

Theo chị, tính cách và văn hóa nào của người Hàn Quốc đã giúp họ đưa đất nước phát triển như hôm nay, dù xuất phát điểm cũng giống Việt Nam?

Điều tôi phục là họ hành động chứ không nói suông, bắt tay vào làm ngay chứ không đợi chờ, từ đó mới biết cái sai mà khắc phục và sáng tạo cái mới.

Họ không ngại khó khăn, sẵn sàng đứng lên sau khi té đau và bắt đầu lại dù ở thời điểm nào.

Với họ mục tiêu rõ ràng là tiến lên phía trước và lạc quan, tự tin bằng sự siêng năng học hỏi, phát triển công nghệ liên tục và cập nhật liên tục.

Họ yêu cái mới, cái lạ, nhưng luôn biết gìn giữ văn hóa, bản sắc dân tộc bằng niềm tự hào và tìm cách nâng cao giá trị ấy một cách vững chắc, nhân văn nhất.  

Có rất nhiều doanh nhân Hàn Quốc đã đi vào sử sách mà tôi ngưỡng mộ như các tập đoàn doanh nhân gia đình Samsung, Hyundai…

Tới bây giờ họ vẫn là doanh nghiệp gia đình qua nhiều thế hệ và làm rạng danh Hàn Quốc trên đấu trường quốc tế. 

Chị có thể chia sẻ điều gì với các bạn trẻ khởi nghiệp trong nông nghiệp, một ngành đầy thách thức và rủi ro?

Hãy cùng nắm tay và chia sẻ thông tin, kiến thức, kể cả sát nhập và hợp tác để tạo sức mạnh. Nhưng nhất thiết phải bắt nguồn từ đam mê, khát khao đủ lớn và cam kết làm từ tâm.

Luôn luôn chịu trách nhiệm về mình và đổi mới sáng tạo, thay đổi tư duy, rèn luyện kỹ năng để vươn ra thế giới, không nhất thiết phải làm cho thị trường trong nước. 

Hai vợ chồng đều là doanh nhân, đều bận rộn, làm thế nào để chị có thể cân bằng giữa công việc và hạnh phúc? 

Exit một brand lớn, làm lại cái mới với tư duy mới và trải nghiệm sâu sắc hơn. Chúng tôi cũng đảm trách trách nhiệm với cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng khởi nghiệp trẻ.

Rồi với The Yellow Chair – Specialty Coffee, chúng tôi tạo dựng một không gian cà phê rất lịch lãm, nhẹ nhàng thanh thoát và đậm chất nhân văn là một cách cân bằng cuộc sống của chúng tôi đấy.

Tại đây chúng tôi có thể nói chuyện với khách như những người bạn mà không hề vội vã hay hối hả.

Chúng tôi giúp khách hàng cân bằng cuộc sống và chúng tôi cũng cân bằng. Đó là lý do chúng tôi tồn tại và luôn luôn tạo ra một sự khám phá trác tuyệt, mang lại sự kỳ thú cho khách hàng và phát triển thật bền vững, nhân văn.  

Chị muốn gửi gắm điều gì vào mô hình quán cà phê mà chị đang theo đuổi, để biến nó thành một nơi truyền cảm hứng cho văn hóa Việt, nông sản Việt?

Thực ra khi làm cà phê, những khách hàng mới trong giới yêu cà phê hay khách hàng “ruột” dùng kim chi hàng chục năm nay vẫn luôn nhớ về chúng tôi với cái tâm trong nghề ẩm thực.

Tại quán hay showroom, chúng tôi luôn có những câu chuyện đi với sản phẩm do mình tạo ra, từ nét văn hóa, thói quen tốt, lễ nghĩa, sẻ chia chân tình và lòng đam mê sâu sắc, hiểu thấu khách hàng khi làm ra cái gọi là nghệ thuật văn hóa ẩm thực. 

The Yellow Chair – Specialty Coffee là dòng cà phê đặc sản, đặc biệt, tinh tế cho những người biết thưởng lãm cuộc sống, yêu mến cuộc đời qua từng chi tiết.

Từ việc chọn cái ly, cái tách, không gian, âm nhạc, chất lượng phục vụ đến lối ứng xử và sẻ chia kiến thức về nhân văn cà phê.

Và niềm tự hào từ “Cái ghế Vàng” – ghế Rocking Chair – ghế ngồi thư giãn – ước mơ của bao doanh nhân Phương Tây đến châu Mỹ sau bao ngày chinh chiến – màu vàng của sự phồn vinh đậm nét Á đông lễ nghĩa văn hóa đạo đức và cao quý. 

Khách hàng hoàn toàn thư giãn khi bước vào The Yellow Chair và hoàn toàn tịnh tâm để thưởng thức sự tinh túy của ly cà phê được pha chế, rang xay bởi những nghệ nhân.

Toàn bộ lịch sử cà phê thế giới và Việt Nam được tái hiện và luôn sáng tạo cho giới yêu cà phê trên toàn thế giới. 

Xin cảm ơn những chia sẻ của chị!




Nguồn: vnexpress, http://daiphongland.com, http://daiphongads.com
Phong thủy nhà ở – daiphongland.com

Phong thủy nhà ở – daiphongland.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *